Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

Vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong đấu tranh bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng

         Khoa học xã hội và nhân văn (KHXH & NV) có vai trò, chức năng và nhiệm vụ to lớn trong việc nghiên cứu qui luật vận động và phát triển xã hội. Do đó khác với khoa học tự nhiên, công nghệ, KHXH & NV luôn luôn theo sát và phản ánh các hoạt động xã hội, phản ánh mâu thuẫn và đấu tranh xã hội, tác động trực tiếp của con người, luôn luôn mang trong mình tính giai cấp, tính đảng rõ rệt.
         Trong các quốc gia dân tộc phát triển đất nước mình theo con đường xã hội chủ nghĩa, KHXH & NV luôn luôn phản ánh và gắn liền với hoạt động của Đảng Cộng sản. Vì vậy, KHXH & NV có vai trò và nhiệm vụ quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
         Với sứ mạng lịch sử ấy, KHXH & NV trước hết là khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt nam có vai trò nhiệm vụ quan trọng trong việc nghiên cứu tìm tòi, phát hiện các quy luật của sự phát triển xã hội, cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học cho việc hoạch định đường lối chiến lược, sách lược của Đảng Cộng sản Việt Nam để phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa. Như vậy có thể thấy, không thể có một Đảng Cộng sản vững mạnh nếu không có lý luận cách mạng - lý luận Mác - Lênin. Lý luận cách mạng tạo nên nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản, Đảng được thành lập trên chính nền tảng tư tưởng đó. Cương lĩnh hành động, đường lối chiến lược, sách lược của Đảng được đề ra cũng dựa trên nền tảng tư tưởng ấy.  
         Lý luận cách mạng của Đảng Cộng sản hoàn toàn khác về chất so với các trào lưu tư tưởng trước C.Mác và phi mác-xít ở chỗ, lý luận này không chỉ giải thích thế giới một cách khoa học, bóc trần sự bất công ngự trị trong xã hội tư bản mà còn phân tích rõ căn nguyên của sự bất công đó và chỉ ra con đường, biện pháp đấu tranh nhằm kiến tạo một xã hội hoàn toàn mới. Lý luận Mác - Lênin giúp Đảng Cộng sản xác định được nhiệm vụ chủ yếu của mình là lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm cải biến cách mạng xã hội, giành lấy chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản. Mục tiêu này chưa một lần được đề ra trong các cương lĩnh của các đảng dân chủ - xã hội ở châu Âu. Đúng như V.I.Lênin đã viết: “Lý luận đó đã chỉ rõ nhiệm vụ thật sự của một đảng xã hội chủ nghĩa cách mạng không phải là đặt ra những kế hoạch cải tạo xã hội, không phải là khuyên nhủ bọn tư bản và bọn tôi tớ của chúng cải thiện đời sống cho công nhân, không phải là sự sắp đặt những âm mưu, mà là tổ chức cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và lãnh đạo cuộc đấu tranh đó, mà mục đích cuối cùng là giai cấp vô sản giành lấy chính quyền và tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa”[1]. Bởi vậy, đối với một đảng chân chính thì lý luận khoa học do KHXH & NV mang lại là một trong những điều kiện cơ bản cần thiết cho sự sống còn của đảng.
         Tuy nhiên, lý luận cách mạng nói riêng và KHXH & NV nói chung không phải là sự phản ánh thụ động thực tiễn. Nó bao hàm sự tổng kết kinh nghiệm lịch sử, đi sâu vào bản chất của các sự việc, phát hiện ra tính quy luật của chúng, vạch ra những xu hướng khách quan, triển vọng của xã hội, Nói cách khác, KHXH & VN, nhất là lý luận Mác - Lênin là sự tiên đoán khoa học. Sự tiên đoán khoa học này được thể hiện ở khả năng Đảng xác định được những nhiệm vụ chủ yếu cho từng giai đoạn cách mạng trong đường lối chính trị của mình. Nhấn mạnh tính tích cực, sáng tạo của lý luận, V.I. Lênin còn khẳng định rằng, trước hết và trên hết, lý luận là “kim chỉ nam cho hành động”, là điều kiện quan trọng trong việc đưa những nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống có hiệu quả.
         Bảo vệ sự đúng đắn, sáng tạo của lý luận Mác - Lênin trước sự công kích gay gắt từ nhiều phía của kẻ thù tư tưởng đủ loại, dưới mọi hình thức là điều kiện quan trọng bảo đảm sức mạnh của Đảng Cộng sản. Đấu tranh chống những quan điểm thù địch đối với chủ nghĩa Mác -Lênin là một mặt quan trọng của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay. Vai trò của KHXH & NV lại càng trở lên quan trọng là phải đấu tranh với những luận điệu của tư tưởng tư sản, những quan điểm sai trái, tư tưởng bảo thủ, lạc hậu trong xã hội. Trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình hiện nay, kết luận sau đây của V.I. Lênin lại càng có ý nghĩa sâu sắc: “Vấn đề đặt ra chỉ có thế này: Hệ tư tưởng tư sản hoặc hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Không có hệ tư tưởng trung gian vì nhân loại không tạo ra hệ tư tưởng “thứ ba” nào cả... Mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản”[2]. Bất cứ sự xa rời nào những nguyên tắc cơ bản nhất của lý luận Mác - Lênin cũng đều dẫn đến việc làm biến chất đảng từ chính đảng cách mạng thành đảng cải lương. Nếu coi thường lý luận hay không có lý luận, như V.I. Lênin đã từng cảnh báo, thì xu hướng cách mạng sẽ mất quyền tồn tại và sớm hay muộn nhất định sẽ rơi vào tình trạng phá sản về chính trị, mất quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
         Nhất là trước những luận điệu của những kẻ theo đuôi chủ nghĩa xét lại cho rằng, điều kiện mới của ngày hôm nay đã quá mâu thuẫn với học thuyết Mác - Lênin. Từ chỗ phủ nhận những luận điểm rất cơ bản của học thuyết khoa học và cách mạng này, họ mưu toan xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin núp dưới hình thức “đổi mới” nó. Những kẻ giáo điều, trên lời nói tuy cũng thừa nhận thực tiễn, nhưng chỉ là thực tiễn của ngày hôm qua, thì lại cố bám lấy những luận điểm cũ không còn phù hợp và không thể vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể đã thay đổi.
         Thực tiễn cách mạng hiện nay luôn đòi hỏi KHXH & NV cần phải đi sâu phân tích một cách sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội trên cơ sở nền tảng của lý luận Mác - Lênin. Sự tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn thể hiện qua việc lý luận đưa ra những luận cứ khoa học về những nhiệm vụ và mục tiêu cho hoạt động thực tiễn, đưa những nguyên tắc và luận điểm của lý luận cách mạng vào cuộc sống. Trách nhiệm lịch sử luôn đòi hỏi Đảng của giai cấp công nhân là phải đưa những tư tưởng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vào sâu rộng trong các tầng lớp người lao động. Tư tưởng tự nó không thể tác động đến sự phát triển lịch sử và cải tạo xã hội hiện thực. Thế nhưng, tư tưởng sẽ trở thành sức mạnh vĩ đại và tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội một khi nó thâm nhập sâu rộng vào phong trào quần chúng, động viên và tập trung họ lại trong cuộc đấu tranh giành những mục tiêu được đặt ra.
         Hiện nay, các đảng phái theo đường lối cải lương cũng không hề lơ là trong việc tuyên truyền, tác động tư tưởng trong phong trào quần chúng. Họ cố gieo rắc vào các tầng lớp người lao động những ảo tưởng về một sự “thống nhất” lợi ích căn bản trong xã hội còn những mâu thuẫn giai cấp và đối kháng giai cấp gay gắt đang tồn tại từ bản chất của chế độ đó. Những thứ “lý sự” giả tạo, phản khoa học kiểu đó đang được tuyên truyền không ngoài mục đích nào khác là làm cho quần chúng lao động xa lánh cuộc đấu tranh giai cấp, ảo tưởng vào sự “thích nghi” của chủ nghĩa tư bản. Có thể thấy tuyên truyền tư sản là phi khoa học, cũng như sự phi khoa học của chính hệ tư tưởng tư sản. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, lời di huấn của V.I.Lênin càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc hơn: “Không sao nhãng một phút nào cái mục đích cuối cùng của chúng ta, phải luôn tuyên truyền, bảo vệ khỏi mọi sự xuyên tạc và phát triển hơn nữa hệ tư tưởng của giai cấp vô sản - học thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học, tức là chủ nghĩa Mác”[3]. Công tác tư tưởng - đó trước hết là hoạt động lý luận, là sự tiếp tục phát triển lý luận cách mạng trên cơ sở tổng kết thực tiễn lịch sử - xã hội mới. Công tác tư tưởng còn bao hàm cả việc truyền bá hệ tư tưởng Mác - Lênin và khẳng định đạo đức cộng sản chủ nghĩa trong đời sống xã hội mới, việc giáo dục chính trị thường ngày hướng tới những hoạt động phổ biến đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và bảo đảm sự đồng tình, ủng hộ từ phía các tầng lớp nhân dân lao động đối với sự nghiệp cách mạng. Điều đó không thể thiếu sự đóng góp to lớn của KHXH & NV.
         Với tinh thần ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rõ trong phương hướng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đó là: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam… Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên…Kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ, chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc”; “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề nảy sinh trong quá trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của công tác nghiên cứu lý luận.”[4].
          Khoa học xã hội và nhân văn quân sự trang bị vũ khí lý luận để đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân đội tham gia đấu tranh có hiệu quả trên mặt trận tư tưởng lý luận của Đảng. Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn đang tiếp tục dưới nhiều hình thức để xuyên tạc lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh , tuyên truyền trào lưu dân chủ tư sản, tuyên truyền “phi chính trị hóa quân đội”…Do vậy, để chủ động và nâng cao hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận hiện nay, KHXH & NV quân sự phải tập trung nghiên cứu để có những sản phẩm lý luận có tính đảng, tính khoa học cao. Qua đó, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các KHXH & NV quân sự thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, tham gia tích cực và hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong thời kỳ mới.


[1] V.I, Lênin, Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ . Mátxcơva. 1978, tr. 321
[2] V.I, Lênin, Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ . Mátxcơva. 1978, tr. 49-50
[3] V.I, Lênin, Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ . Mátxcơva. 1978, tr. 36
[4] Đ.C.S.V.N. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb CTQG. H 2011, tr255-256 

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Ai là người đích thực vi phạm quyền tự do tín ngưỡng ở Việt Nam?
       Gần đây, các thế lực thù địch với Việt Nam và những kẻ phản bội lưu vong luôn tuyên truyền, vu khống, xuyên tạc tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Ở trong nước, một số người bất đồng chính kiến, một số kẻ cơ hội chính trị cũng a dua theo luận điệu của bọn phản động, đã tung tin, viết bài phản ánh sai sự thật về tình hình đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Họ, tất cả cùng một giuộc, với dã tâm không hề thay đổi, luôn tìm mọi cách để chống phá công cuộc đổi mới của đất nước ta đến cùng. Cố tình phớt lờ những thực tế của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam:
      Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Nhân dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhân Việt Nam từ ngàn xưa đến nay luôn coi trọng truyền thống  yêu nước thương nòi, tuy có đức tin khác nhau, nhưng không vì thế mà sinh ra hằn thù, chia rẽ. Tín đồ thuộc các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau luôn chung sống hào hợp, cùng toàn dân đoàn kết trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
      Trong những thời kỳ đất nước bị thực dân đô hộ, các tôn giáo bị phân biệt đối xử, một số tôn giáo bị đàn áp.Chúng ngăn cản, khủng bố rất khốc liệt tinh thần yêu nước của đồng bào, nhiều vị chân tu bị bắt bớ tù đày, thậm chí bị thủ tiêu vì yêu nước. Cũng như toàn dân tộc, tín đồ các tôn giáo sống trong cảnh lầm than, khổ nhục. Các tổ chức giáo hội bị đế quốc khống chế thao túng. Chúng chia rẽ nội bộ từng tôn giáo kích động chống lại nhau. Ai theo chúng thì được ưu đãi, dung dưỡng, ai không theo thì bị cấm đoán, thậm chí bị bức hại. Chúng lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, biến mâu thuẫn của cả dân tộc ta với bọn xâm lược thành mâu thuẫn giữa những người theo tôn giáo với những người không theo tôn giáo, giữa những người cộng sản với các tôn giáo. Trong chế độ cai trị của đế quốc thực dân, nhân dân ta không hề có quyề tự do tín ngưỡng. Như thế đâu có nhân quyền. Có chăng chỉ là "tự do" cho một số ít người "ôm chân, nấp bóng" quân xâm lược mà thôi.
      Nhưng ngay sau khi đất nước được độc lập, và trong suốt tiến trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến đời sống đồng bào tôn giáo, bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo.  Ngay từ phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tôn trọng tự do tín ngưỡng là một trong vấn đề quan trọng của Nhà nước mới thành lập. Người nói: "Thực dân phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo với đồng bào lương để thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tư do và lương giáo đoàn kết". Người yêu cầu cán bộ phải quan tâm tới nguyện vọng của tín đồ, làm cho đồng bào tôn giáo được "phần xác ấm no, phần hồn thong dong". Người dặn đò các giáo sĩ cần làm cho tổ chức tôn giáo thể hiện được vai trò tôn giáo của một nước độc lập, tránh cho thiên hạ có cảm tưởng rằng đồng bào tôn giáo còn chịu ách nô lệ của người nước ngoài trong lúc toàn dân ta đã thành công đòi lại được nền độc lập cho dân tộc. Trong Sắc lệnh số 234/SL ngày 14 tháng 6 năm 1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành, đã xác định rõ tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền lợi của nhân dân; khẳng định Chính phủ luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện, không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo; giáo dân và các tổ chức tôn giáo phải tuân thủ theo pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân.
       Qua các thời kỳ cách mạng, tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương nhất quán của Đảng, được Nhà nước thể chế hóa thành Hiến Pháp, pháp luật. Nhà nước luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo hộ các nơi thở tự của các tín ngưỡng, tôn giáo; tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục, đào tạo, ấn loát kinh sách, các văn hóa phẩm tôn giáo được nhập từ nước ngoài hoặc xuất bản trong nước. Các tôn giáo được đi tham dự các hội nghị quốc tế của tôn giáo; được mời, đón các đoàn tôn giáo nước ngoài vào thăm và làm việc; được khuyến khích tham gia hoạt động từ thiện xã hội. Các tôn giáo đề bình đẳng trước pháp luật; tín độ, giáo dân và các tổ chức tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật; không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước. Nhà nước luôn chủ trương đấu tranh và xử lý nghiêm mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích Tổ quốc và nhân dân.
       Hệ thống chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo đã đi vào cuộc sống, được các giáo hội, tu sĩ, chức sắc và tín đồ tôn giáo hoan nghênh. Hiện nay đã có hàng ngàn nơi thở tự của các tôn giáo có hệ thống tổ chức đang sinh hoạt thường xuyên bình thường, nhiều nơi được sửa chữa hoặc xây cất mới. Nhiều ngôi chùa, nhà thờ Thiên chúa giáo, thánh thất Cao đài, thánh đường Hồi giáo.v.v. cùng hàng ngàn nơi thờ tự của các tín ngưỡng truyền thống trong nhân dân được tu bổ, tôn tạo. Đó là những biểu hiện rõ ràng nhất về quyền tự do sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; là thực tế không ai có thể phủ nhận được.
        Từ sự thật lịch sử Việt Nam, đối chiếu với những luận điệu "cáo buộc" của họ, chúng ta dễ nhận thấy đó là những lời vu khống trắng trợn. Họ cố tình quên những tội ác mà các thế lực ngoại bang đã gây ra cho dân tộc, cho đất nước, cho đồng bào tôn giáo ở Việt Nam. Rõ ràng, từ khi đất nước được độc lập, thống nhất, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã có biết bao đổi thay, khởi sắc. Từ tình cảnh nội bộ các tôn giáo chia năm xẻ bảy, đồng đạo ly tán, có khi hận thù xô xát, có lúc khai trừ, ra vạ tuyệt thông với nhau, đến nay đa số các tôn giáo thống nhất và đang có những bước phát triển mới. Từ những nơi thờ tự đổ nát hoặc cô lập trong vòng kẽm gai của Mỹ, ngụy trước đây, đến những chỗ sinh hoạt tôn giáo trang nghiêm hiện nay; từ những đội ngũ chức sắc tôn giáo pha tạp lúc trước, có người mặc áo lính, có địa phận còn bị cai quản bởi giáo sĩ người nước ngoài... đến đội những đội ngũ chức sắc trong sáng, thuần khiết ngày càng nhiều ...Thử hỏi rằng, thời gian qua, những tôn giáo ở Việt Nam được hay mất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo? 
      Vậy ai là người đích thực vi phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam? Ai đã từng biến nơi thờ tự thành đồn bốt, tháp canh, cưỡng ép giáo dân làm thành "hàng rào thịt" bao quanh các căn cứ quân sự, đẩy thanh niên tôn giáo ra làm bia đỡ đạn? Ai đã dội bom lên các chùa chiền, nhà thờ, thánh thất... nhằm biến miền Nam Việt Nam thành vùng oanh kích tự do và âm mưu đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá. Trách nhiệm về hàng vạn nơi thờ tự bị hủy diệt trong các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thuộc về ai?
       Ai đã tác động tâm lý, tung tin thất thiệt, xô đẩy hành chục vạn đồng bào công giáo bỏ quê cha, đất tổ, bỏ lại ruộng vườn để theo "Chúa vào Nam", gây bao cảnh gia đình ly tán, các nơi thờ tự hương lạnh khói tàn? Và ai đã là người khôi phục lại ruộng vườn, phục hồi sản xuất, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, sửa chữa các nơi thờ tự, đảm bảo kinh nguyện bình thường, giúp cho nền đạo lành ngày càng phát triển?
      Trước đây sao chẳng thấy các tổ chức nhân quyền, các nhà nhân quyền nào lên tiếng phản đối khi máu đổ sân chùa và các nơi thờ tự bị làm ô uế ở miền Nam Việt Nam, khi hàng loạt chức sắc, tín đồ các tôn giáo bị chế độ cũ bắt bớ giam cầm vì họ là người yêu nước? Khi hàng loạt các nhà sư, linh mục bị bắt đầy ra Côn Đảo?. Cho đến nay, vẫn xuất phát từ dã tâm xấu xa, một số thế lực thù địch với Việt Nam, đã dung dưỡng, kích động cho những kẻ quá khích đem vũ khí, chất nổ, đô-la, tiền bạc, tài liệu kích động quần chúng hoạt động bất hợp pháp và đem sách báo xuyên tạc chế độ mới, kể cả máy in tiền giả vào chốn trang nghiêm, tạo điều kiện cho số người xấu nấp sau nơi thờ phụng để phá hoại trật tự an ninh và ổn định xã hội. Thử hỏi, đó là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hay sao?
        Bất cứ nhà nước, quốc gia nào cũng có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền đất nước, bảo vệ sự ổn định và trật tự xã hội. Bất cứ sinh hoạt chính trị, xã hội nào trong một xã hội tự do và dân chủ cũng cần diễn ra trong khuôn khổ luật pháp. Theo đó, việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi công dân không được làm ảnh hưởng đến các tín ngưỡng, tôn giáo khác; không ảnh hưởng đến quyền tự do, dân chủ của công dân khác, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng. Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào khác, có kỷ cương pháp luật, mọi công dân phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, mọi hành động vi phạm pháp luật đều bị xết xử, nghiêm trị.
       Những thế lực thù địch ở nước ngoài luôn tìm cách kích động số ít người xấu trong các tôn giáo để gây rối, gây mất trật tự trị an, nhằm phá hoại sự ổn định xã hội, nhưng khi pháp luật trừng trị thì chúng mượn cớ kêu la, hò hét, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền và tư do tín ngưỡng. Đó là sự xuyên tạc thô bạo nhằm đổi trắng thay đen, che dấu âm mưu phản động mà sự thật đó là những hành vi vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam. Vì thế, cần phải nêu cao cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn đó, để bảo vệ đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ổn định, tiến bộ của đất nước ta hiện nay./.
 

 

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

mấy ý kiến đánh giá


Mấy ý kiến về đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo
trong các nhà trường quân đội hiện nay
                                                                      
                                                                             

       Trên thế giới, có nhiều cách thức tổ chức đánh giá chất lượng giáo dục- đào tạo khác nhau, nhưng đều hướng tới việc thu thập thông tin về việc tổ chức và kết quả quá trình dạy - học, giáo dục. Từ đó đối chiếu với những chuẩn mực nhất định để đưa ra những quyết định về hiệu quả giáo dục- đào tạo, phát hiện những vấn đề chưa hợp lý hoặc những điểm cần có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển trong tương lai. Do tính chất phức tạp và yêu cầu cần đạt tới, việc đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo phải được nghiên cứu một cách khoa học cả về mặt nguyên tắc, nội dung, phương thức đánh giá.
       1. Nguyên tắc đánh giá chất lượng giáo dục- đào tạo
- Đánh giá chất lượng phải trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu giáo dục - đào tạo.
        Nguyên tắc này đòi hỏi mọi nhận định, kết luận của người (hoặc cơ quan) đánh giá phải dựa vào kết quả thực hiện mục tiêu đào tạo của đối tượng đánh giá, từ đó rút ra được mức độ đáp ứng của sản phẩm đào tạo với đòi hỏi của mục tiêu đã đặt ra. Một quá trình đào tạo được xem xét là có chất lượng, khi nó đạt những kết quả huấn luyện, giáo dục được những con người có phẩm chất và năng lực phù hợp với mô hình nhân cách người cán bộ phải đào luyện. Tuy nhiên, mục tiêu mô hình này phải được xác định đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tế đòi hỏi xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội.
- Đảm bảo tính khách quan trong đánh giá.
         Tính khách quan trong đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo đòi hỏi việc đánh giá phải xác định mục tiêu cụ thể, rõ ràng và phải dựa trên những căn cứ xác đáng như chuẩn đánh giá, quy trình và phương pháp đánh giá. Đối với hoạt động giáo dục - đào tạo, việc đánh giá khách quan chất lượng giáo dục của một nhà trường còn phải tính đến thái độ của người đánh giá. Nếu với động cơ lành mạnh, trách nhiệm cao, vô tư thì đánh giá sẽ khách quan, từ đó mà yêu cầu công bằng trong đánh giá cũng được bảo đảm.
         - Đảm bảo độ tin cậy trong đánh giá.    
         Độ tin cậy trong đánh giá được thể hiện trước hết ở nội dung xem xét đánh giá phải toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm hướng vào những mặt, những yếu tố, những tiêu chí, chỉ số quan trọng nhất. Nếu sử dụng phương pháp thu thập thông tin phục vụ cho đánh giá là khảo sát, điều tra thì số lượng thăm dò, phỏng vấn phải đủ lớn, mang tính đại diện phải cao; công cụ và quy trình đánh giá phải thống nhất trong suốt cả quá trình; các phép đo, tính toán phải chính xác; quá trình đánh giá phải khắc phục mọi biểu hiện hình thức, giản đơn, coi nhẹ các khâu, các bước trong thu thập thông tin và rút ra nhận định đánh giá mới đạt được độ tin cậy cao.
       2. Nội dung đánh giá
        Tuỳ theo mục đích, nhiệm vụ, yêu cầu và thời điểm theo chu kỳ đánh giá mà các trường xác định nội dung đánh giá cho phù hợp. Nhìn chung đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo phải căn cứ vào kết quả xem xét, nhận định về tất cả các yếu tố cấu thành chất lượng, trong đó tập trung vào các nhóm nội dung sau:
          Thứ nhất, đánh giá chất lượng của các yếu tố ban đầu của quá trình đào tạo bao gồm: Chất lượng của việc xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng các chương trình, nội dung và qui trình đào tạo cuả nhà trường. Chất lượng công tác tổ chức và quản lý theo quy định của Điều lệ công tác nhà trường và được cụ thể hoá trong quy chế về tổ chức và hoạt động của cơ sở đàp tạo. Chất lượng công tác tuyển sinh và đội ngũ giảng viên qua số lượng, chất lượng và cơ cấu. Năng lực quản lý đào tạo và bảo đảm về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, khả năng tài chính và hợp tác quốc tế của nhà trường.
          Thứ hai, đánh giá chất lượng của các yếu tố trong thực tiễn quá trình đào tạo trên các nội dung: Chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hướng dẫn học viên nghiên cứu khoa học, thực hành, thực tập của đội ngũ giảng viên. Chất lượng, hiệu quả hoạt động học giáo dục của nhà trường và hoạt động học tập và rèn luyện của học viên. Chất lượng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục - đào tạo và các hoạt động khác của nhà trường. Về hiệu quả khai thác và sử dụng các phương tiện vật chất, trang thiết bị của trường trong quá trình đào tạo.
          Ba là, đánh giá chất lượng của các yếu tố sau quá trình đào tạo, thông qua các nội dung như: chất lượng của học viên tốt nghiệp so với mục tiêu đào tạo; chất lượng của sự phát triển nghề nghiệp và nhân cách của học viên sau một thời gian đào tạo, khả năng đảm đương cương vị thực tế và khă năng phát triển của học viên sau khi ra trường; sự trưởng thành của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo và khả năng phát triển, hoàn thiện về cơ sở vật chất của nhà trường.
 3. Phương thức tiến hành đánh giá
          Để đánh giá chính xác, kịp thời chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường đối với một khoá học, một đối tượng đào tạo nào đó, thông thường phải sử dụng nhiều “kênh” đánh giá. Điều đó dẫn tới việc hình thành những phương thức tiến hành đánh giá khác nhau. Trong những điều kiện của các nhà trường Quân đội hiện nay, việc tự  đánh giá (đánh giá trong) về chất lượng giáo dục - đào tạo thường bao gồm những phương thức sau:
        - Đánh giá kết quả huấn luyện thông qua kết quả thi, kiểm tra kết thúc học phần, môn học..
        Dạy học là một quá trình hoạt động cơ bản quan trọng, đặc trưng cho quá trình đào tạo của nhà trường. Đây là một quá trình tổ chức giảng dạy và học tập nhiều môn học khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo. Sau mỗi học phần, môn học đều có thi, kiểm tra đánh giá kết quả dạy học. Xét về phương diện đào tạo tri thức, đánh giá chất lượng đào tạo chính là đánh giá tích hợp kết quả dạy học các môn, học phần đó.
        Kết quả học tập của học viên một mặt phản ánh quá trình học tập, trước hết là sự nỗ lực cố gắng, khả năng nhận thức, phương pháp nghiên cứu, học tập của từng người, mỗi tập thể học viên; mặt khác, kết quả đó cũng phản ánh chất lượng giảng dạy của lực lượng giảng viên, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo của đội ngũ cán bộ các cấp trong nhà trường. Tuy nhiên, không phải lúc nào một kết quả cao, thấp của kiểm tra cũng là sự thống nhất của cả dạy và học mà đôi  khi vai trò chính của kết quả lại thuộc về một bên. Từ đó, đòi hỏi những người tham gia đánh giá cần thấy được mối quan hệ của thi, kiểm tra và đánh giá với các nhân tố của quá trình dạy học để có thể đánh giá khách quan.
        - Đội ngũ cán bộ quản lý đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học viên.  
        Cán bộ quản lý có trách nhiệm xem xét, đánh giá kết quả học tập rèn luyện của học viên trên cơ sở đối chiếu với chỉ tiêu đã đề ra. Đánh giá của cán bộ quản lý thường mang nhiều yếu tố định tính về năng lực nhận thức thực tế, khả năng chiều hướng phát triển của học viên, thông qua theo dõi quá trình học tập phấn đấu của họ. Phương thức đánh giá này không chỉ dựa trên thành tích học tập được biểu thị bằng điểm thi, kiểm tra mà còn căn cứ vào thái độ, sự nỗ lực rèn luyện, việc tổ chức các hoạt động, hành động thao tác học tập của người học, cũng như sự đáp ứng các yêu cầu rèn luyện về kỷ luật, đạo đức, tác phong được qui định trong điều lệnh, điều lệ, qui chế, chỉ thị, nghị quyết. Tính pháp lý của công việc này chính là chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn mà nhà trường đã giao cho đội ngũ cán bộ quản lý.
        - Đánh giá của Thủ trưởng Nhà trường, các cơ quan chức năng với các đơn vị (khoa, hệ, tiểu đoàn).
       Các cơ quan chức năng như Phòng Đào tạo, Phòng Khoa học công nghệ môi trường, Phòng Chính trị… với chức năng của mình, có thể theo dõi, tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của các đơn vị học viên một cách trực tiếp hoặc dưới dạng tổng hợp tình hình, số liệu, sự kiện cho Thủ trưởng nhà trường xem xét, đánh giá. Những kết quả đánh giá này cũng có ý nghĩa là một trong những yếu tố góp phần làm rõ chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường.
       - Đánh giá thông qua sơ kết, tổng kết.
         Quá trình giáo dục - đào tạo là một quá trình có tổ chức, điều khiển. Việc đánh giá chất lượng diễn ra trong suốt cả quá trình, ở từng thời điểm và trong nhiều hoạt động của nhà trường. Thông qua sơ kết học kỳ, tổng kết năm học để các khoa giáo viên, các đơn vị học viên tự đánh giá mình, khẳng định mức độ của chất lượng giảng dạy, chất lượng học tập, rèn luyện và quản lý, tìm ra nguyên nhân để đề ra phương hướng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và rèn luyện của đơn vị mình. Đây cũng là một trong những phương thức đánh giá chất lượng giáo dục- đào tạo. Như vậy có thể thấy rằng, việc tự đánh giá chất lượng giáo dục- đào tạo luôn cần tới sự tham gia của nhiều lực lượng khác nhau trong nhà trường. Ngoài ra, các chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục - đào tạo, trước hết là giảng viên và học viên cần phải luôn tự đánh giá mình. Những ý kiến tự đánh giá này có ý nghĩa góp phần vào việc chính xác hoá, cụ thể hoá các nhận định được rút ra từ các phương thức đánh giá khác.
        Bên cạnh các phương thức đánh giá trong (hay nói cách khác là đánh giá bởi chính bản thân các lực lượng trong từng trường), còn có phương thức đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo từ bên ngoài (đánh giá ngoài). Để thực hiện sự đánh giá ngoài, thông thường cần phải huy động lực lượng từ các cơ quan chức năng của cấp trên nhà trường và các tổ chức cơ quan, đơn vị tiếp nhận sản phẩm đào tạo của nhà trường.
        Đối với Trường Sĩ quan Chính trị, việc đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo từ bên ngoài sẽ được thực hiện bởi các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục đào tạo và các đơn vị trong toàn quân. Việc tiến hành tự đánh (đánh giá trong) về chất lượng giáo dục- đào tạo hiện nay cũng đã được Nhà trường làm thủ tục đăng ký với Bộ Quốc phòng và thành lập Hội đồng tự đánh giá của Nhà trường. Những kết quả tự đánh giá chất lượng giáo dục  đào tạo sẽ là căn cứ để xác định phương hướng đổi mới để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của Nhà trường.